Từ chiến thắng lịch sử 30/4 nghĩ về trọng trách của ngành Lao động-Thương binh và Xã hội

Ngày Chiến thắng 30/4/1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước mãi mãi là một mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Để có được thắng lợi vĩ đại đó, hàng triệu đồng bào, đồng chí đã hy sinh, hàng triệu người phải mang trên mình thương tật, hoặc di chứng suốt đời.

HTML clipboard

Kế thừa truyền thống và phát huy ý nghĩa to lớn của ngày chiến thắng, trong suốt 35 năm qua, với trọng trách được giao, ngành Lao động-Thương binh và Xã hội cùng với các Bộ, ngành, các địa phương và nhân dân cả nước đã cùng nhau chung sức, chung lòng từng bước khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục sản xuất, phát triển kinh tế, chăm lo tốt đời sống người có công và bảo đảm an sinh xã hội. Đặc biệt, trong 10 năm gần đây, ngành đã tham mưu xây dựng và thực hiện tương đối đầy đủ một hệ thống chính sách về lao động, người có công và xã hội và đã đạt được những kết quả quan trọng trên nhiều lĩnh vực:

Về công tác lao động-việc làm và dạy nghề: Với việc ra đời Bộ luật Lao động, Luật Dạy nghề, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Người Lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cùng hệ thống văn bản hướng dẫn đã góp phần giải phóng sức sản xuất và sức lao động, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh. Hàng năm, cả nước đã tạo việc làm cho khoảng 1,5 triệu người và đưa hàng chục nghìn lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; quan hệ lao động hình thành và phát triển theo hướng ổn định, hài hòa lợi ích giữa các bên; chính sách tiền lương từng bước đổi mới theo định hướng thị trường; điều kiện làm việc của người lao động ngày càng tốt hơn.

Dạy nghề đã được phục hồi và có bước phát triển mạnh, từng bước đáp ứng yêu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập, góp phần tăng trưởng kinh tế và phát triển con người. Mạng lưới cơ sở dạy nghề phát triển rộng khắp với 3 cấp trình độ đào tạo, quy mô dạy nghề tăng nhanh, chuyển mạnh từ dạy nghề ngắn hạn sang dạy nghề dài hạn (trung cấp nghề và cao đẳng nghề). Ngành nghề đào tạo đã từng bước điều chỉnh theo nhu cầu của thị trường lao động; các điều kiện đảm bảo chất lượng dạy nghề được tăng cường nên chất lượng và hiệu quả dạy nghề dần được nâng cao.

Trong lĩnh vực người có công, phát huy truyền thống đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã tham mưu xây dựng và ban hành Pháp lệnh ưu đãi Người có công với cách mạng là văn bản pháp lý cao nhất, quy định các chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với người có công... Cùng với hàng loạt văn bản  pháp quy đã kịp thời sửa đổi, bổ sung các  chính sách, chế độ và những vấn đề nảy sinh từ cuộc sống, phù hợp với tình hình phát triển của kinh tế xã hội, ban hành nhiều chính sách, chế độ mới hướng tới bảo đảm công bằng trong việc thực hiện ưu đãi đối với người có công; đồng thời giải quyết tốt các vấn đề còn tồn đọng. Nhiều chính sách hỗ trợ khác cũng được ban hành và thực hiện như chính sách ưu đãi về nhà ở, chính sách ưu đãi trong giáo dục đào tạo; chăm sóc sức khỏe, ưu tiên vay vốn từ quỹ quốc gia giải quyết việc làm để hỗ trợ các cơ sở sản xuất kinh doanh của thương, bệnh binh và người có công, tạo điều kiện cho con em họ có việc làm, tăng thu nhập, ổn định cuộc sống...

Bên cạnh đó, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” đã huy động được sức mạnh của toàn xã hội trong công tác chăm sóc người có công với cách mạng. Hàng ngàn việc làm tốt đẹp đã nảy nở từ thôn bản, làng xã, đường phố không những tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn chăm sóc người có công mà còn góp phần vào công cuộc đổi mới, làm giàu, xóa đói, giảm nghèo trong đời sống của các gia đình chính sách. Nhờ đó, người có công đã được chăm sóc tốt hơn về vật chất và tinh thần, được tôn vinh; đời sống ổn định và từng bước được cải thiện, đến nay gần 90% hộ gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình dân cư nơi cư trú.  

Hệ thống an sinh xã hội từng bước được hoàn thiện, chất lượng cung cấp dịch vụ được nâng cao. Nhiều chính sách giảm nghèo mới được ban hành, đặc biệt là việc thực hịên Nghị quyết 30ª của Chính phủ về giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo (nay là 62 huyện), đã mang lại những kết quả tích cực, góp phần giảm nhanh hộ nghèo, chống tái nghèo, giảm khoảng cách chênh lệch giữa các vùng và các tầng lớp dân cư.

Bên cạnh đó, số đối tượng được tiếp cận và hưởng lợi từ chính sách an sinh xã hội ngày càng mở rộng. Đến nay có trên 9,1 triệu người tham gia BHXH bắt buộc, 53,3 triệu người tham gia BHYT, hơn 80% đối tượng thuộc diện trợ giúp xã hội được hưởng trợ cấp xã hội của Nhà nước và của cộng đồng nên đời sống dần được ổn định và hòa nhập tốt hơn vào cộng đồng.

Các lĩnh vực xã hội khác như bảo vệ, chăm sóc trẻ em, phòng, chống tệ nạn xã hội, bình đẳng giới tiếp tục được quan tâm và coi trọng. Các quyền và môi trường sống của trẻ em được thực hiện tốt hơn; từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho các em; giảm tỷ lệ tử vong cho trẻ em dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi, tăng tỷ lệ trẻ em đến trường và được phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở; trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được quan tâm, chăm sóc và hòa nhập cộng đồng. Tỷ lệ phụ nữ tham gia hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội tăng, đã làm giảm và xóa bỏ dần khoảng cách giới, đưa chỉ số khoảng cách giới của Việt Nam đứng ở vị trí thứ 68 trong số 130 nước. Tệ nạn xã hội, nhất là nghiện ma túy, mại dâm từng bước được kiềm chế, hạn chế được mức độ hoạt động công khai, các tụ điểm nóng, phức tạp. Công tác chữa trị, giáo dục, phục hồi, dạy nghề, tạo việc làm và hòa nhập cộng đồng cho đối tượng được đẩy mạnh và thu nhiều kết quả.

Những thành tựu to lớn trên đây đã góp phần không nhỏ vào thành tích chung của cả nước trong suốt 35 năm qua, đưa nước ta từng bước phát triển, hội nhập với khu vực và thế giới. Tuy nhiên, mặc dù chiến tranh đã lùi xa nhưng hậu quả của nó vẫn còn rất nặng nề. Vẫn còn hàng trăm nghìn thân nhân liệt sỹ chưa tìm được mộ của người thân; hàng chục nghìn mộ liệt sỹ chưa được quy tập, cất bốc. Các nạn nhân chất độc da cam dioxin vẫn còn chịu rất nhiều thiệt thòi và đang bền bỉ đấu tranh đòi công lý. Thêm vào đó là hàng trăm nghìn người đã chết hoặc bị thương do hậu quả của bom mìn còn tồn sót sau chiến tranh. Cả nước vẫn còn khoảng 800 nghìn tấn bom, mìn tồn sót, làm ô nhiễm trên 20% diện tích đất đai toàn quốc, đặc biệt là ở các tỉnh miền Trung và sẽ phải mất rất nhiều năm mới có thể khắc phục được.

Phát huy tinh thần chiến thắng 30/4, tiếp tục đền đáp công lao của các thế hệ đã cống hiến, hy sinh để giành độc lập, thống nhất đất nước, nhiệm vụ đặt ra cho ngành Lao động – Thương binh và Xã hội là rất nặng nề. Mục tiêu đặt ra cho ngành trong thời gian tới là phải tạo được bước phát triển mới về các lĩnh vực lao động, người có công và xã hội; tập trung giải quyết tốt những vấn đề bức xúc về việc làm, dạy nghề, tạo thu nhập, nâng cao mức sống; chăm sóc người có công; giảm nghèo bền vững; ngăn chặn và đẩy lùi các tệ nạn xã hội; góp phần tăng trưởng kinh tế, giữ vững ổn định chính trị và bảo đảm an sinh xã hội. Để thực hiện tốt các mục tiêu nêu trên, toàn ngành đang tập trung thực hiện những giải pháp cơ bản sau đây:

Một là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật lao động: Xây dựng Luật Tiền lương tối thiểu, Luật Việc làm, Bộ luật Lao động sửa đổi. Xây dựng và thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, chương trình xuất khẩu lao động, chương trình bảo hộ lao động- an toàn và vệ sinh lao động theo kế hoạch 5 năm (2010-2015) và chiến lược 10 năm (2010 – 2020) tới. Tiếp tục tạo việc làm bền vững đi đôi với nâng cao chất lượng việc làm (cả trong nước và xuất khẩu lao động). Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập; phát triển thị trường lao động đồng đều giữa các vùng và gắn kết cung – cầu lao động; tăng lao động làm công ăn lương, phát triển hệ thống thông tin, phân tích và dự báo thị trường lao động, hệ thống giao dịch việc làm; áp dụng công nghệ thông tin hiện đại và nối mạng quốc gia; thực hiện nguyên tắc phân phối tiền lương và thu nhập công bằng, phản ánh quan hệ cung – cầu lao động và được xác định thông qua cơ chế thương lượng, thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ lao động; xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trên cơ sở thực hiện cơ chế thỏa thuận giữa các bên, giảm thiểu đình công và tranh chấp lao động; bảo đảm cho người lao động được làm việc trong môi trường an toàn và vệ sinh, giảm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.

Hai là, tập trung mọi nguồn lực cho phát triển nguồn nhân lực, tạo bước đột phá về day nghề gắn với nhu cầu của xã hội. Đổi mới và phát triển dạy nghề theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa và theo định hướng cầu của thị trường lao động; mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng dạy nghề, chuyển mạnh dạy nghề từ trình độ thấp sang trình độ cao; đa dạng hóa các ngành nghề đào tạo, bảo đảm cơ cấu ngành nghề phù hợp yêu cầu của nền kinh tế, nhất là ngành nghề, kỹ năng mới, ngành nghề mũi nhọn, trọng điểm; phát triển mạnh dạy nghề trong các doanh nghiệp và gắn với doanh nghiệp; thiết lập hệ thống kết nối giữa hướng nghiệp, dạy nghề, thông tin, tư vấn, giới thiệu việc làm và doanh nghiệp. Triển khai có hiệu quả Đề án dạy nghề cho lao động nông thôn giai đoạn 2010-2020.

Ba là, thực hiện tốt chính sách đối với người có công. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách ưu đãi; tăng cường kiểm tra, kiên quyết xử lý những trường hợp vi phạm. Tập trung giải quyết dứt điểm những vấn đề tồn đọng; tiếp tục tiến hành việc khảo sát, tìm kiếm, phát hiện, quy tập hài cốt liệt sĩ. Tập trung nguồn lực giúp đỡ các gia đình chính sách còn khó khăn, cải thiện cuộc sống, phấn đấu 100% hộ gia đình chính sách có mức sống bằng và cao hơn mức trung bình của xã hội.

Bốn là, tiếp tục giảm nghèo bền vững, gắn tăng trưởng kinh tế với giảm nghèo; bảo đảm an sinh xã hội cho dân cư nông thôn. Tạo điều kiện cho người nghèo nâng cao năng lực thông qua dạy nghề, hướng dẫn cách làm ăn, tiếp cận các nguồn lực để tạo việc làm, đa dạng hóa sinh kế và tăng thu nhập; tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Thực hiện tốt Nghị quyết 30ª của Chính phủ về giảm nghèo nhanh và bền vững ở 62 huyện nghèo .

Năm là, thực hiện tốt chính sách BHXH, bảo hiểm thất nghiệp, tiến tới bảo hiểm xã hội cho mọi người lao động.

Sáu là, ổn định và từng bước cải thiện đời sống các đối tượng trợ giúp xã hội, tạo điều kiện và cơ hội cho họ hoà nhập tốt hơn vào cộng đồng; ưu tiên, khuyến khích và tạo cơ hội cho các đối tượng yếu thế tiếp cận nguồn lực kinh tế, nỗ lực vươn lên hòa nhập cộng đồng; đa dạng hóa các loại hình trợ giúp và cứu trợ xã hội, chuyển mạnh sang cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận và chăm sóc đối tượng dựa vào cộng đồng. Thực hiện tốt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020. Phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng và thực hiện tốt Chương trình hành động rà phá bom mìn; hỗ trợ các nạn nhân bị bom mìn khắc phục khó khăn trong cuộc sống  và huy động các nguồn lực trong nước và quốc tế chung tay khắc phục hậu quả bom mìn.

Bảy là, tăng cường bảo vệ và chăm sóc trẻ em. Tập trung nguồn lực bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nhất là phòng ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại, bị bạo lực, trẻ em lao động sớm, trẻ em khuyết tật và trẻ em nhiễm HIV; ưu tiên hỗ trợ bảo vệ và chăm sóc trẻ em vùng nông thôn nghèo và vùng sâu, vùng xa; phát triển mạnh hệ thống dịch vụ hỗ trợ bảo vệ và chăm sóc trẻ em.

Tám là,  bảo đảm bình đẳng giới trong mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; giảm khoảng cách giới và xóa bỏ định kiến về giới.

Chín, tiếp tục kiềm chế, tiến tới đẩy lùi các tệ nạn xã hội. Nâng cao hiệu quả công tác chữa trị, giáo dục, dạy nghề và tạo việc làm, tái hòa nhập cộng đồng các đối tượng nghiện ma túy và mại dâm; tăng cường quản lý Nhà nước trên từng địa bàn để phát hiện, nắm chắc và quản lý chặt các đối tượng.

Nguyễn Thị Kim Ngân
Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng
Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội

© Bản quyền 2015 Bộ LĐ-TB & XH - Cục Người có công

Địa chỉ: 139 Nguyễn Thái Học, Ba Đình, Hà Nội.

Tel: (04) 3734 2414 - Fax: (04) 3734 24145

E-mail: info@nguoicocong.gov.vn - Website: www.nguoicocong.gov.vn

Phòng thông tin Liệt Sĩ: (04) 3734 9765

Hỗ trợ kỹ thuật Tel: (04) 379 315 98 (máy lẻ 103) - (04) 3562 6000 (chọn máy lẻ 1425)